Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 4)

Xem thêm Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 3)

        Không rõ với việc phản đối của các doanh nghiệp sản xuất nước ngọt có ga không cồn và của AmCham có gây ra tác động gì không nhưng rốt cuộc Bộ Tài chính lựa chọn phương án không đưa mặt hàng này vào danh mục các mặt hàng chịu thuế TTĐB khi sửa đổi luật này vào năm ngoái.

 

        Quay trở lại vứi mặt hàng ô tô, theo phân tích của một chuyên gia thì nếu áp thuế TTĐB quá cao đối với phương tiện ô tô chở người trên 3.0 lít trở lên như đề xuất của Bộ Công Thương thì rõ ràng Việt Nam cũng đang dùng đến biện pháp thuế để hạn chế sử dụng xe nhập khẩu mà mình không sản xuất và kích thích sự tiêu dùng xe lắp ráp trong nước. Bởi lẽ những dòng xe sang trên 3.0 lít trên thị trường trong nước hiện chủ yếu đang là xe nhập khẩu từ các thị trường Mỹ, châu Âu, Nhật.

 

        Một doanh nghiệp lắp ráp ô tô trong nước dã cho rằng, việc Chính phủ áp thuế TTĐB cao đối với dòng xe có giá trị lớn so với những dòng xe phổ thông để nhằm mục đích hạn chế tiêu dùng và giảm nhập siêu là chuyện không hề mới và đã thực hiện nhiều năm nay. Tuy nhiên, lâu nay vói khoảng cách giữa các mức thuế cho các dòng xe không lớn, như hiện nay chỉ chênh lệch vào khoảng 15% giữa xe có dung tích thấp nhất so với xe có dung tích cao nhất.

 

        Nếu giờ đây Việt Nam áp dụng mức thuế TTĐB cho ô tô hạng sang theo đề xuất của Bộ Công Thương thì sẽ đẩy mức giá xe lên cao ngất ngưởng, ảnh hưởng lớn đến việc kinh doanh của một số nhà nhập khẩu dòng ô tô sang, trong khi những thương hiệu xe sang trên thế giới hiện nay đều có đại diện kinh doanh ở thị trường Việt Nam.

 

        Mặt khác, theo hãng này, hiện nay số người sử dụng xe sang ở thị trường trong nước chưa nhiều, nếu bây giờ đẩy mức thuế TTĐB quá cao sẽ dẫn đến giảm tiêu dùng thì mục tiêu tăng thu thuế từ những loại xe này chưa chắc đã có thể thành công.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 3)

Xem thêm Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 2)

        Cụ thể là Thủ tướng đã yêu cầu điều chỉnh thuế suất thuế TTĐB theo nguyên tắc phân chia thành các nhóm nhỏ hơn trong quy định tại Luật Thuế TTĐB hiện hành theo hướng giảm mức thuế suất thuế TTĐB đối với các dòng xe để ưu tiên phát triển và “áp dụng mức thuế suất TTĐB cao và đặc biệt cao đối với các dòng xe lên đến 9 chỗ có dung tích trên 3.0 lít và có giá trị tuyệt đối lớn…”

 

        Một mặt khác, có ý kiến cho rằng việc Bộ Công Thương đưa đề xuất tăng đột biến thuế TTĐB cho ô tô sang trên 3.0 lít cũng nhằm góp phần bù hụt thu cho ngân sách khi giảm thuế nhập khẩu ô tô sắp tới cũng như giảm thuế TTĐB đối với các loại xe có dung tích nhỏ để kích thích thị trường và khuyến khích việc sản xuất trong nước. Hiện các loại xe sang trên 3.0 lít chỉ chiếm chưa đến 3% số lượng xe cá nhân trên thị trường hiện nay nhưng giá trị lại rất lớn.

 

Liệu có vi phạm?

 

        Mặc dù các chuyên gia của Bộ Công Thương đã cho rằng thuế TTĐB thuộc về chủ quyền quốc gia, không bị chi phối bởi các cam kết trong hội nhập , nhưng có ý kiến cũng cho rằng nếu tăng thuế như vậy thì Việt Nam sẽ vi phạm các nguyên tắc “không phân biệt đối xử” theo cam kết đối với WTO.

 

        Điều này sẽ giống như dự thảo sửa đổi bổ sung một số điều của bộ Luật Thuế TTĐB trong đó đề xuất áp 10% thuế TTĐB đối với các loại nước ngọt có ga không cồn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của người dùng xảy ra vào năm ngoái, mà hai thương hiệu nước ngọt của Mỹ là Coca Cola và Pepsi đang nắm giữ 88% thị phần loại nước uống này.

 

        Khi đó lãnh đạo của Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) đã cho rằng đề xuất 10% thuế TTĐB này của Việt Nam là nhằm giảm bớtnhu cầu sử dụng của người tiêu dùng đối với nước có ga mang nhãn hiệu nước ngoài nổi tiếng, nhằm gia tăng nhu cầu về nước giải khát không ga mang nhãn hiệu nội địa.

 

        “Nếu như Chính phủ Việt Nam áp dụng một loại thuế ủng hộ loại nước giải khát có thương hiệu trong nước và gây bất lợi cho các nhãn hiệu nước giải khát nước ngoài, chúng tôi tin rằng loại thuế này là một vi phạm rất rõ ràng các cam kết WTO và gửi đi thông điệp rằng Việt Nam gia tăng các rào cản bất hợp pháp với nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài”, AmCham lên tiếng để bảo vệ doanh nghiệp nước mình.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 2)

Xem thêm Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (Phần 1)

        Và đối với xe ô tô có dung tích từ 6.0 lít trở lên, mức thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ là 150%, tăng đến 90 điểm phần trăm, nghĩa là gấp 2,5 lần so với mức thuế hiện nay. Thời gian mà Bộ Công Thương đề xuất áp dụng thống nhất là bắt đầu từ ngày 1/7/2016, không thay đổi trong giai đoạn ngắn.

       Đây là một mức đề xuất cao kỷ lục từ trước đến nay áp với mặt hàng ô tô, bởi lẽ mức thuế cao nhất áp cho mặt hàng này đã được ghi nhận là 100% dành cho xe ô tô dưới 5 chỗ ngồi chở người (áp dụng trong giai đoạn năm 1999-2003 theo Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt ban hành vào năm 1998).

        Việc đề xuất mức thuế này đã cho thấy Bộ Công Thương tiếp tục giữ quan điểm tăng mạnh thuế TTĐB đối với dòng ô tô sang và giảm thuế xuống thấp cho xe nhỏ khi soạn thảo dự thảo quyết định của Thủ tướng về các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô. Khi đó, mức đề xuất xe sang có dung tích trên 6.0 lít đã được bộ này đưa ra lên đến 195%, gấp 3,25 lần so với mức hiện hành, đã bị không ít người tiêu dùng và những nhà nhập khẩu xe sang quyết liệt phản đối.

 

        Và Bộ Tài chính đã không hề đồng tình với kiến nghị của Bộ Công Thương về các vấn đề này với lý do Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt vừa mới được sửa đổi và được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2014 và cuộc họp của thường trực Chính phủ vào đầu năm cũng đã thống nhất tạm thời không điều chỉnh thuế TTĐB ô tô trong vòng 3 năm, nghĩa là tới năm 2018.

 

        Tuy nhiên, nếu đối chiếu với nội dung trong Thông báo số 229 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng về các chính sách phát triển công nghiệp ô tô vào trung tuần tháng 8 vừa qua, thì với đề xuất về mức thuế trên của Bộ Công Thương được giới phân tích đánh giá là theo đúng với những chủ trương của Thủ tướng.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô sẽ là 75% hay 150%? (P1)

Trong khi Bộ Tài chính đang đề xuất thuế tiêu thụ đặc ô tô ở mức cao nhất là 75% thì Bộ Công Thương lại có đề xuất áp thuế này lên đến 150%.

Văn phòng Chính phủ vừa có một văn bản gửi các thành viên Chính phủ đề nghị cho ý kiến cuối cùng về việc lựa chọn ra 1 trong 2 phương án sửa đổi thuế đối với ô tô. Trong đó, điểm đáng chú ý nhất là đối với dòng xe ô tô hạng sang, có dung tích động cơ từ 3.0 lít trở lên, đang phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) 60% có hai phương án đề xuất khác biệt rất lớn: thuế suất 75% hoặc 150%.

Tăng thuế mạnh đối với xe sang

Ở phương án 1 là do Bộ Tài chính đề xuất, mọi loại xe dung tích trên 3.0 lít sẽ được áp dụng một mức thuế thống nhất theo một lộ trình: Từ 1/7/2016, thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng ở mức 75%, tăng 15 điểm phần trăm so với mức hiện hành; từ ngày 1/1/2018, chịu mức thuế 70%, giảm 5 điểm phần trăm so với khoảng thời gian 1,5 năm trước và tăng 10 điểm phần trăm so với mức hiện nay.

Ở phương án 2 theo như đề xuất của Bộ Công Thương, các dòng xe có dung tích động cơ trên 3.0 lít trở lên này sẽ được chia nhỏ thành nhiều mức dung tích hơn nữa, với mỗi loại xe cách nhau 1.0 lít và sẽ áp dụng biểu thuế suất cao nhất từ trước tới nay, thay vì hiện nay chỉ áp một mức thuế chung đó là 60%.

Cụ thể, đối với xe có dung tích từ 3.0 lít đến 4.0 lít, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ áp dụng ở mức 90%, tăng 30 điểm phần trăm so với hiện hành. Xe có dung tích động cơ từ 4.0 lít đến 5.0 lít sẽ phải chịu thuế suất là 110%, tăng 50 điểm phần trăm so với mức hiện hành. Và xe có dung tích từ 5.0 lít cho 6.0 lít sẽ phải chịu thuế suất là 130%, tăng 70 điểm phần trăm.

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá thép mạ nhập khẩu (P.2)

Xem thêm Điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá thép mạ nhập khẩu (P.1)

Đối với phía các nhà nhập khẩu hàng hóa đang bị điều tra, để đảm bảo lợi ích của chính mình, bên cạnh việc trả lời đầy đủ bản câu hỏi điều tra dành cho phía nhà nhập khẩu, các nhà nhập khẩu cần phải chủ động về việc chuyển bản câu hỏi điều tra dành cho phía các nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài mà mình đã mua hàng hóa thiết bị mà bị điều tra để các nhà sản xuất/xuất khẩu này trả lời bản câu hỏi điều tra này.

Tất cả các thông tin, số liệu được cung cấp trong quá trình trả lời bản câu hỏi của cơ quan điều tra và quyền tiếp cận thông tin của vụ việc của các bên liên quan trong suốt quá trình điều tra sẽ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về việc bảo mật thông tin tại Điều 15 Pháp lệnh chống bán phá giá và Điều 30 của Nghị định 90/2005/NĐ-CP.

Cách thức để trả lời các phần trong bản câu hỏi, số lượng bản khảo sát phải nộp, hình thức nộp và thời hạn nộp đã được hướng dẫn chi tiết trong nội dung Bản trả lời câu hỏi dành cho doanh nghiệp tại đĩa CD đính kèm với bản câu hỏi. Do đó, doanh nghiệp cẩn đọc kỹ babr hưỡng dẫn trước khi trả lời và nộp lại bản trả lời cho Cơ quan điều tra đúng thời hạn đề ra.

Ngoài ra, về phía các doanh nghiệp sản xuất/xuất khẩu nước ngoài có tên trong danh sách gửi kèm nhưng chưa nhận được các bản câu hỏi điều tra và các doanh nghiệp không thuộc trong danh sách nói trên có thể chủ động liên lạc với các điều tra viên của các cơ quan điều tra – Phòng Điều tra vụ kiện phòng vệ thương mại của những doanh nghiệp trong nước – Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương.

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá thép mạ nhập khẩu (P.1)

Cục Quản lý Cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 818/QĐ-BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép mạ nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) và Hàn Quốc.

Trước đó, vào ngày 28/3/2016, các Cơ quan điều tra đã gửi bản câu hỏi để điều tra vụ việc cho tất cả các doanh nghiệp đang sản xuất/xuất khẩu ra nước ngoài, các nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất trong nước. Thời hạn để trả lời cho bản câu hỏi điều tra là đến ngày 10/5/2016 tới.

 

        Để đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích tốt nhất cho tất cả các bên, tất cả các nhà sản xuất trong nước, các nhà nhập khẩu và nhà sản xuất/xuất khẩu có liên quan cần nêu cao tinh thần tham gia hợp tác đầy đủ trong suốt cả quá trình trả lời bản câu hỏi đầy đủ cho đến khi Cơ quan điều tra ban hành đến kết luận cuối cùng. Nội dung bản trả lời là căn cứ để các cơ quan điều tra đưa ra những kết luận sơ bộ và kết luận cuối cùng của vụ việc diễn ra. Trong trường hợp cơ quan điều tra không nhận được thông tin trả lời đúng hạn của các nhà sản xuất/xuất khẩu, nhà nhập khẩu, nhà sản xuất trong nước hoặc trong trường hợp những thông tin cung cấp không đúng, không đầy đủ theo đúng yêu cầu thì các Cơ quan điều tra sẽ sử dụng thông tin sẵn có để đưa ra kết luận theo Điều 13 của Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia Việt Nam, và Điều 22 của Nghị định 90/2005/NĐ-CP.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Vinamotor – Giá thấp thì ế xưng, giá cao thì bán hết

 

        Còn nhớ, vào đầu năm 2014, đợt IPO của Tổng công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam (Vinamotor) đã để lại dấu ấn buồn, chỉ bán được vỏn vẹn 1,5 triệu/51 triệu cổ phần chào bán với giá bình quân chỉ bằng đúng giá khởi điểm 10.000 đồng/cổ phần, thu về vỏn vẹn 15,7 tỷ đồng.

        Nhưng tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), phiên đấu giá thoái vốn trọn lô 85,58 triệu cổ phần Vinamotor (có tỉ lệ tương đương 97,7% vốn điều lệ) giữa tháng 1/2016 lại đầy hoan hỷ, dù giá khởi điểm cả lô đẩy lên đến hơn 1.250 tỷ đồng, tương ứng 14.612 đồng/cổ phần. Có nhiều nhà đầu tư đã hăm hở vào cuộc, nhưng chỉ có 2 nhà đầu tư đủ điều kiện đấu giá. Cuối cùng, chỉ nhỉnh hơn các đối thủ 2 triệu đồng, Công ty TNHH Motor N.A Việt Nam (Vinamco) đã chi 1.250,515 tỷ đồng để có thể sở hữu 85,58 triệu cổ phần Vinamotor.

 

        Vì sao có nghịch lý cổ phần khi bán giá thấp thì ế xưng, bán giá cao lại hấp dẫn?

 

        Nhiều chuyên gia kinh tế đã phân tích: Sự thất bại đợt IPO đã phản ánh đúng sự quan tâm của nhà đầu tư đến những hiệu quả, tiềm năng phát triển của Vinamotor. Chẳng ai dại gì mua cổ phần của doanh nghiệp với bản báo cáo tài chính đầy những con số ảm đạm, khó thấy “cửa sống”. Đặc biệt, trong khi đó, nhà nước vẫn muốn “ôm” tới 49% vốn sau cổ phần hóa – kiểu tư duy bảo hộ điển hình, lấy các doanh nghiệp nhà nước làm vai trò trụ cột dù hiệu quả rất thấp – trong khi công nghiệp ôtô đang kém hấp dẫn…

 

        Và với quyết định “bán đứt” Vinamotor của Thủ tướng Chính phủ đúng thời điểm ngành công nghiệp ôtô hiện đang có những khởi sắc là quyết định mạnh bạo, mở ra con đường mới cho Vinamotor, là một bước ngoặt thay đổi về tư duy: Phát triển kinh tế tư nhân, dùng doanh nghiệp tư nhân để làm trụ cột trong lĩnh vực công nghiệp ôtô.

 

        Cổ phần hóa doanh nghiệp của nhà nước không thể vội vã, cần đúng lúc, đúng thời điểm và đặc biệt, không thể áp đặt tư duy cũ.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Doanh nghiệp ôtô Việt Nam: Tự tin trước “bão” hội nhập (Phần 2)

        Những chiếc ôtô nguyên chiếc nhập khẩu từ Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan mặc dù số lượng xấp xỉ nhưng có giá trị thấp nguyên do chủ yếu bởi là xe con giá rẻ. Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2015 – 2018 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, đây chính là nguyên nhân khiến cho dòng xe ôtô tải Trung Quốc chảy vào Việt Nam khá lớn, bởi ôtô tải nguyên chiếc trên 45 tấn chỉ chịu thuế suất thuế nhập khẩu là 0%; ôtô tải từ 25- 45 tấn chịu thuế suất là 10-15%…

 

        Các nhà phân tích trong nước đã khẳng định, đây chỉ có thể coi là những thách thức đối với các nhà sản xuất ôtô tại thị trường Việt Nam, ôtô nhập khẩu không đủ sức mạnh để có thể “đè chết” ôtô sản xuất trong nước. Những lời đồn đoán về số “mệnh yểu” của công nghiệp ôtô Việt Nam là không hề có căn cứ thực tiễn xác đáng.  Hãy cùng xem xét vài con số sau.

 

        Tổng lượng ôtô tiêu thụ của các doanh nghiệp thuộc VAMA trong năm 2015 đạt 244.914 chiếc, tăng 55% so với năm 2014 – đạt mức kỷ lục tiêu thụ ôtô Việt Nam trong lịch sử. Nếu xét riêng phân khúc xe con thì hãng Toyota đang chiếm thị phần lớn nhất Việt Nam với số lượng 49.778 xe con tiêu thụ năm 2015, chiếm 37% thị phần. Tiếp theo là Thaco với 42.231 xe con, chiếm tới 32%… Theo đại diện của Toyota Việt Nam, thị trường ôtô Việt Nam vẫn đang đứng thứ 5 trong ASEAN, còn rất nhiều dư địa và các tiềm năng phát triển. Năm 2020, lượng ôtô tiêu thụ sẽ cán mốc 370.000 chiếc, một dự báo tương lai rất khả quan.

 

        Dù thị trường ôtô có thể biến động do những chính sách thuế có nhiều thay đổi từ năm 2016, nhưng các doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước, và cả doanh nghiệp Việt và doanh nghiệp FDI, vẫn dư quyết tâm, có đủ lực mạnh để không bị ôtô nhập khẩu đánh bại.

 

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Doanh nghiệp ôtô Việt Nam: Tự tin trước “bão” hội nhập (Phần 1)

        Có lẽ là ít khi thị trường ôtô Việt Nam có nhiều “cơn nhiễu” thông tin xuất hiện như thời gian gần đây, nào là ôtô nhập khẩu “đè” ôtô nội địa, thực hư giá tăng – giảm, khó lường thuế lên – xuống, nào là doanh nghiệp ô tô FDI sẽ giảm sản lượng, không đầu tư mới, thậm chí có thể rời bỏ Việt Nam… và sự thất bại của Công ty Vinaxuki vẫn còn ám ảnh mãi. Thực tế ra sao?

        Theo số liệu mới đây của Tổng cục Hải quan, năm 2015, Việt Nam nhập 125.663 ôtô nguyên chiếc, tổng trị giá 2,98 tỷ USD, tăng 77,1% về lượng, tăng 88,7% về giá trị so với năm 2014. Ôtô được nhập khẩu có nguồn từ 4 thị trường chính: Trung Quốc (26.742 chiếc, tổng trị giá 1.047 triệu USD), Hàn Quốc (26.589 chiếc, tổng 613 triệu USD), Ấn Độ (25.146 chiếc, tổng 129 triệu USD) và Thái Lan (25.136 chiếc, tổng 441 triệu USD).

 

        Đáng chú ý hơn cả là ôtô Trung Quốc chiếm tới 35% giá trị nhập khẩu, do lượng ôtô tải nhập khẩu với giá cao tăng vọt so với năm 2015.

 

        Mẫu ôtô nguyên chiếc nhập khẩu từ Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan mặc dù có số lượng xấp xỉ nhưng giá trị thấp do chủ yếu là xe con có giá rẻ. Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2015- 2018 có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/1/2015 chính là nguyên nhân khiến dòng ôtô tải Trung Quốc chảy vào Việt Nam với số lượng khá lớn, bởi ôtô tải nguyên chiếc trên 45 tấn chịu thuế suất với thuế nhập khẩu 0%; ôtô tải từ 25- 45 tấn là 10-15%…

 

        Các nhà phân tích khẳng định, đây chỉ có thể được coi là những thách thức với các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam, ôtô nhập khẩu không đủ sức mạnh để “đè chết” ôtô sản xuất trong nước. Những lời đồn đoán về “mệnh yểu” của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam là không có căn cứ thực tiễn xác đáng.  Hãy xem xét vài con số sau.

(Còn tiếp)

        

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi

Siết chặt việc nhập khẩu thiết bị máy móc đã qua sử dụng bằng thông tư 23 (P.3)

Theo thông tư 23 cũng đã quy định thẩm quyền của Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ: 1) Trong các trường hợp cần thiết, tùy thuộc đặc thù của từng ngành, lĩnh vực đã được phân công quản lý, Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành quy định yêu cầu về độ tuổi thiết bị thấp hơn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 đối với cá thiết bị đã qua sử dụng (thấp hơn 10 năm) và thông báo cho Bộ KH&CN biết để có thể thống nhất quản lý; 2) Trong những trường hợp đặc biệt, thiết bị đã qua sử dụng có tuổi vượt quá 10 năm nhưng doanh nghiệp cần thiết phải nhập khẩu để nhằm bảo đảm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, căn cứ hồ sơ và kiến nghị của doanh nghiệp, Bộ KH&CN sẽ phối hợp với các Bộ, ngành xem xét và đưa ra quyết định.

Thủ tục giám định và thủ tục thông quan hải quan đã được quy định rõ ràng và rất cụ thể trong Chương III (Điều 7, 8, 9, 10) của Thông tư 23. Theo đó, trong hồ sơ nộp tại các cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu các máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, doanh nghiệp cần phải nộp giấy xác nhận của chính nhà sản xuất hoặc chứng thư giám định của những tổ chức giám định để chứng minh tuổi thiết bị không vượt quá 10 năm (tính từ ngày sản xuất cho đến ngày nhập khẩu) và được sản xuất theo những tiêu chuẩn phù hợp với quy định của QCVN/TCVN hoặc phù hợp với Tiêu chuẩn của các nước thuộc G7 về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, thì sẽ được cơ quan hải quan đồng ý thông quan.

 

Nếu thiết bị đã qua sử dụng chuyển về đến cảng Việt Nam nhưng doanh nghiệp chưa có tài liệu kỹ thuật chứng minh rằng thiết bị phù hợp với yêu cầu nhập khẩu tại Điều 6 (yêu cầu về nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng) thì doanh nghiệp được phép đưa hàng về bảo quản sau khi nộp cơ quan hải quan giấy đăng ký giám định đã có xác nhận của những tổ chức giám định và văn bản đề nghị đưa hàng về bảo quản. Trong thời hạn cho phép theo quy định của Luật Hải quan, nếu doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục hồ sơ, các giấy tờ cần thiết thỏa mãn quy định tại Điều 6 và Điều 7 (về mục hồ sơ nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng), cơ quan hải quan sẽ cho phép thông quan; ngược lại, nếu máy móc, thiết bị giám định không đạt đủ yêu cầu thì sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.

 

Sau khi đã được thông quan, doanh nghiệp đưa thiết bị vào lắp ráp, vận hành, sẽ được kiểm tra về độ an toàn, tiết kiệm năng lượng và môi trường theo các quy định của pháp luật hiện hành. Việc kiểm tra này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền thuộc các lĩnh vực về an toàn, năng lượng, môi trường thực hiện. Nếu có vi phạm về quy định, doanh nghiệp phải chịu các hình thức xử phạt thích đáng theo các quy định pháp luật đã đề ra.

Đăng tải tại Thiết bị nhập khẩu | Để lại phản hồi